words per minute
4
TuQuang
00:00
Speed
Quán Âm Thất Khai Thị
Hòa Thượng Tuyên Hóa
Đời xưa bên Tàu, tùng lâm có lệ "đả thất" để sách tấn người tu. Mục đích của đả thất là khiến người tu, nương nơi sự dẫn đạo của bậc Thầy cao minh và sự tinh tấn, oai lực của đại chúng, làm một bước nhảy đột phá (breakthrough) tiến thẳng vào mảnh đất của tự tâm, thể nhận lấy bản tính bất sanh bất diệt của chính mình. Những kẻ chín mùi cho bước nhảy ấy là kẻ dám buông bỏ hết vạn sự,vất sạch hết thị phi, nhân ngã, lợi hại tranh chấp, có không, ngon dở, đẹp xấu. Y chỉ một mực lắng lòng, tự tịnh, tự soi đến cực điểm. Đối với cuộc sống bậnn bịu xứ Mỹ nầy: vướng víu đủ chuyện-từ việc nhà đến việc người, việc đời, e thời gian để mình quay lại lắng lòng tự soi, tự lọc chắc ít ỏi lắm thay. Nếu vậy có lẽ đả thất là phương pháp thích hợp và hữu hiệu cho ta lắm: một cơ hội tốt để mình tự soi tự chiếu, nhận biết lại chính mình.
Thất có hai loại: thiền thất và trì niệm thất. Hai bài khai thị dưới đây giảng về đả Quán Âm Thất, một loại trì niệm thất. Tất cả chúng ta, người chưa tu,mơi tu hay tu lâu, ai cũng có thể tham gia đả thất, bởi vì đả thất là: về lại chính mình.
Dùng Sáu Căn Niệm Quán Âm
Hòa Thượng Tuyên Hóa
Khi niệm hồng danh Đức Quán Thế Âm, chẳng những miệng niệm phải rõ ràng mà tâm mình cần phải nhớ giữ cho sáng tỏ. Phải dùng tất cả sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý – mà niệm. Đem toàn thân toàn ý chuyên chú mà niệm Đức Quán Thế Âm. Đó là thâu nhiếp Sáu căn, chuyên tâm thâm nhập.
Nơi Viên Thông Chương của Ngài Đại Thế Chí dạy rằng: “Thâu nhiếp sáu căn, xâu kết không gián đoạn chuỗi niệm thanh tịnh thì sẽ đắc được Tam ma địa.Đây là phương pháp hay nhất .” Thật vậy đoạn kinh trên dạy mình đem sáu căn cột giữ vào một chỗ, không tán loạn bắt chúng phải phục tùng theo, nghe lời mình. Khi đó mình biến sáu tên giặc chịu phép nhu thuận, biết nghe lời, không còn dám tác quái nữa.
Vì sao khi niệm Quán Thế Âm mình chẳng chuyên nhất đặng? Là bởi vì mình không chịu thâu nhiếp, không chế ngự sáu tên giặc nầy. Rồi cứ để chúng tạo sóng tạo gió, dẫn khởi vọng tưởng cuồn cuộn nổi lên.
Khi đã cột giữ được sáu căn thì mình phải xâu hết không gián đoạn chuổi niệm thanh tịnh. Niệm thanh tịnh phải giữ nó liên tục sóng nước: sóng sau tiếp sóng trước không ngừng nghỉ vậy. Chuỗi niệm thanh tịnh tức là niệm Đức Quán Thế Âm. Mình phải niệm không gián đoạn không ngừng nghỉ. Niệm cho tới lúc “ tương ưng “ thì đó là đắc Tam- ma-địa. Tam ma địa nghĩi là Chánh Định Chánh Thọ.
Đây là pháp môn viên thông hay nhất vậy . Khi mình có trình độ cảm nghiệm cảnh giới như trên tức là mình có thể dùng sáu căn mà trì niệm đức Quán Âm vậy.
Khi cảm nhận đặng cảnh giới Tam-ma-địa thì mới gọi là đắc niệm Quán Âm Tam muội. Kẻ được như vậy mới gọi là đả Quán Âm Thất! Chưa được Niệm Quán Âm Tam Muội thì chưa là kẻ thật đả thất! Kẻ nhập tam muội thì từ sáng đến tối, miệng niệm tâm trì danh hiệu Quán Thế Âm mà chẳng biết, chẳng hay gì đến quá khứ, hiện tại hay vị lai. Y hoàn toàn quên bẳng bặt mất ý niệm về thời gian.
Khi tinh thần tập trung niệm Quán Âm, mọi phiền não tự nhiên sẽ tiêu mất. “Mình ăn cơm chưa hè? Không nhớ!” Vì sao thế? Vì y niệm Quán Âm mà! “Mình mặc áo quần đàng hoàng chưa hè? Không nhớ nữa!” Vì sao vậy? Vì y chuyên tâm niệm Quán Âm mà! “ Mình ngủ chưa hè? Không nhớ nữa!” Vì sao thế? Vì y dốc lòng niệm Quán Âm đó!
Cho nên, nếu mình có thể quên bẳng ba chuyện: ăn uống, áo quần, ngủ nghỉ thì tam muội sẽ hiện tiền. Vì tâm chẳng còn vô minh, phiền não, vọng tưởng. Do đó hãy niệm Quán Âm cho rõ ràng; lòng vui vẻ hoan hỷ coi niệm Quán Âm là việc sung sướng tự tại nhất. Được vậy thì dù bịnh, bịnh cũng lành; có đau, đau cũng hết. Dù bụng đói, cũng thấy no; dù thiếu ngủ cũng thấy khỏe. Đây cũng chính là đi vào cảnh giới Niệm Quán Âm Tam Muội.
Niệm Quán Âm Nhiều Thêm
Vọng Tưởng Bớt Ít Đi
Hòa Thượng Tuyên Hóa
Niệm Quán Âm tức là quét dọn rác rưởi trong lòng mình.
Niệm một tiếng Quán Âm, thì bớt đi một vọng tưởng.
Niệm hai tiếng Quán Âm, thì bớt đi hai vọng tưởng.
Niệm vạn tiếng Quán Âm, thì bớt đi vạn vọng tưởng.
Có người hỏi: "Thầy dạy sai rồi! Khi tôi niệm Quán Âm lòng tôi vọng tưởng cũng dấy lên; e vọng tưởng nhiều hơn cả niệm Quán Âm."
Bản lĩnh của vị này cao cường lắm! Bởi vì y có thể vừa niệm Quán Âm vừa nghĩ loạn xạ. Kỳ thực y chẳng niệm Quán Âm đâu, bởi vì tâm y nào có ở chỗ đó đâu. Tuy nhìn nhưng y chẳng thấy; tuy nghe mà y chẳng lắng. Tuy cùng đại chúng niệm Quán Âm nhưng y chẳng chú ý đến Quán Âm. Chính bởi do không chú ý, chú tâm đến Quán Âm nên vọng tưởng loạn lên. Khi vọng tưởng nổi dậy thì miệng cũng quên niệm Quán Âm. Hễ quên niệm Quán Âm thì vọng tưởng lại càng dấy khởi. Đó là thứ tu lấy lệ chứ không phải tu chân thật.
Lúc nào mình không niệm Quán Âm thì lúc đó mình hòa với bụi bặm, trộn với bùn lầy: Cứ bị người xung quanh đưa đẩy, chẳng có định tâm gì cả. Tới lúc niệm Quán Âm thì chẳng được tương ưng, tiếng niệm yếu ớt, khí lực bạc nhược.
Đây, lúc niệm Quán Âm thì mắt phải nhìn hướng tới Ngài, lòng tưởng nhớ Ngài. Xem Bồ Tát thực sự luôn luôn hiện hình ở trước mặt mình. Đức Bồ Tát ngàn mắt ngó mình, ngàn tai nghe mình, ngàn tay hộ mình. Miệng niệm Quán Âm, tai phải nghe cho rõ ràng. Rồi lại đem tiếng niệm nghe nơi tai, chuyển đạt vô đáy lòng. Khi lòng tiếp nhận tiếng niệm Quán Âm thì tức là mình đã thỉnh Ngài Quán Âm vào tâm tư rồi đấy. Có Ngài Quán Âm ngự trong lòng thì sao mình có thể loạn tưởng, nghĩ xằng đặng! Cho nên niệm Ngài Quán Âm là phương thuốc thần trị bịnh vọng tưởng.
Hễ lòng thanh tịnh, thì mình tự tại.