words per minute
6
HonNguync
00:00
Speed
1, bản đồ là gì? Các tính chất cơ bản của bản đồ?
Bản đồ là hình ảnh thu nhỏ của bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng thông qua một quy tắc toán học nhất định ( hay là phép chiếu bản đồ). Nội dung trình bày trên bản đồ được lựa chọn thông qua sự tổng quát hóa và được thể hiện trên bản đồ bởi hệ thống các kí hiệu quy ước mang tính khoa học. Đó chính là định nghĩa chung về bản đồ.
Bản đồ số là bản đồ trên đó có sự chồng xếp các lớp thông tin khác nhau, là tập hợp của các thông tin được lưu trữ trong máy tính (trong đĩa) dưới dạng số và được thành lập dưới sự trợ giúp của máy tính và các phần mềm chuyên dùng gắn liền với kỹ thuật sản xuất bản đồ.
Bản chất của bản đồ là một loại mô hình thông tin. Trong khoa học thuật ngữ mô hình thông tin được định nghĩa như sau: “Trong công tác nghiên cứu một đối tượng nào đó, dù là nghiên cứu lý luận hay nghiên cứu ứng dụng, nếu người ta không nghiên cứu trực tiếp lên đối tượng mà thay bằng nghiên cứu một hệ thống tự nhiên hay nhân tạo đó được gọi là mô hình” do đó:
Bản đồ là một mô hình nhận thức.
Bản đồ là một mô hình thông tin.
Bản đồ là một dạng ngôn ngữ kỹ thuật đặc biệt (ghi nhận và định vị đối tượng).
Khác với các loại hình nghệ thuật khác mô tả hình ảnh Trái Đất như ảnh hàng không, ảnh vũ trụ, tranh ảnh, các bài văn mô tả… Bản đồ có đặc điểm riêng:
Mỗi bản đồ đều được xây dựng trên một cơ sở toán học xác định như tỉ lệ và phép chiếu bản đồ, bố cục bản đồ, các điểm khống chế tọa độ trắc địa…
Các đối tượng và hiện tượng (Nội dung bản đồ) được biểu thị theo một phương pháp lựa chọn và khái quát nhất định (Tổng quát hóa bản đồ).
Các đối tượng và hiện tượng được biểu thị bằng ngôn ngữ bản đồ – đó là hệ thống các ký hiệu quy ước.
+) Các tính cất của bản đồ
Tính trực quan :Được biểu hiện ở chỗ là bản đồ cho ta khả năng bao quát và tiếp thu nhanh chóng những yếu tố chủ yếu và quan trọng nhất của nội dung bản đồ. Một trong những tính chất ưu việt của bản đồ là khả năng bao quát, biến cái không nhìn thấy thành cái nhìn thấy được. Bản đồ tạo ra mô hình trực quan của lãnh thổ, nó phản ánh các tri thức về các đối tượng hoặc các hiện tượng được biểu thị. Bằng bản đồ, người sử dụng có thể tìm ra được những quy luật của sự phân bố các đối tượng và hiện tượng trên bề mặt trái đất.
Tính đo được :Đó là tính chất quan trọng của bản đồ. Tính chất này có liên quan chặt chẽ với cơ sở toán học của nó. Căn cứ vào tỷ lệ và phép chiếu của bản đồ, căn cứ vào các thang bậc của các ký hiệu quy ước, người ta sử dụng bản đồ có khả năng xác định được rất nhiều các trị số khác nhau như: toạ độ, biên độ, độ dài, khoảng cách, diện tích, thể tích, góc, phương hướng và nhiều trị số khác. Chính do có tính chất này mà bản đồ được dùng làm cơ sở để xây dựng các mô hình toán học của các hiện tượng địa lý và để giải quyết nhiều vấn đề khoa học và thực tiễn sản xuất.
Tính thông tin của bản đồ :Đó là khả năng lưu trữ và truyền đạt cho người đọc những tin tức khác nhau về các đối tượng và các hiện tượng.
2
khái niệm về hình dáng kích thước của quả đất
- Khái quát hình dáng trái đất có dạng hình cầu bề mặt lồi lõm gồ ghề có tổng diện tích khoảng 51 triệu kmv với 71% Là Đại Dương 29% là lục địa và Hải đảo
- bán kính trái đất là 6.371 km v nơi cao nhất là đỉnh Everest Cao 8848 km nơi sâu nhất là hộp Mariana sâu 11022 m
- độ cao trung bình của đất liền với mặt biển khoảng 780m, độsâu trung bình của đại dương đạt tới 3.800m
- Khái niệm về mặt nước gốc quả đất: mặt geoid
+ mặt quy ước lấy bề mặt đại dương yên tĩnh kéo dài xuyên quá lục địa và Hải đảo tạo thành một mặt cong khép kín là mặt nước góc quả đất
+3 mặt Elipxoid. quay mặt geoid quanh bán trục b-n ta được mặt elipxoid
+ bán trục lớn (a), bán hộp nhỏ (b), độ lớn f = (a-b) /a
3
Nêu khái niệm về họa tọa độ Địa lý, khái niệm về kinh độ và vĩ độ của một điểm trên địa cầu
+Tọa độ là các đại lượng đặc trưng cho vị trí của các điểm so với điểm gốc, đường thẳng góc hoặc mặt phẳng góc của một hệ toạ độ đã chọn
+ hệ tọa độ Địa lý được quy định chung và thống nhất cho toàn bộ quả đất. 1 điểm thuộc hệ tọa độ Địa lý sẽ được xác định bởi kinh độ và vĩ độ
+ kinh tuyến địa lý là giao tuyến của mặt cầu và mặt phẳng đi qua A chứa trục quay P1 P2, mặt phẳng chứa đường kính tuyến gọi là mặt phẳng kinh tuyến, đường kinh tuyến gốc đi qua đài thiên văn greenwich ở London, mặt phẳng chứa đường kinh tuyến gốc gọi là mặt phẳng kinh tuyến gốc
+ vĩ tuyến là giao tuyến của mặt cầu và mặt phẳng vuông góc với trục quay quả đất, đường vĩ tuyến tạo bởi mặt phẳng vuông góc góc đi qua tâm O gọi là đường xích đạo, còn mặt phẳng chứa đường xích đạo là mặt phẳng xích đạo
+ qua mỗi điểm trên bề mặt quả đất ta đều có thể kể được một đường kinh tuyến và một đường vĩ tuyến
-Khái niệm về kinh độ và vĩ độ
+ vĩ độ địa lý của điểm p là gốc tọa độ Phi tạo bởi đường thẳng đứng p0 đi qua điểm đó là mặt phẳng xích đạo. vĩ độ được tính từ mặt phẳng xích đạo về hai phía bắc nam tùy thuộc vào vị trí của điểm nằm ở nước bán cầu. điểm nằm ở phía Bắc bán cầu sẽ có vĩ độ Bắc còn ở Nam bán cầu sẽ có vĩ độ Năm. vĩ độ có giá trị từ 0 tại các điểm trên đường xích đạo là 90 tại các cực p1 và P2.
+ kinh độ Địa lý của điểm P là gốc nhị diện landa giữa mặt phẳng của kinh tuyến gốc và m phẳng kinh tuyến của điểm đó. Trong hệ tọa độ Địa lý, kinh tuyến gốc là kinh tuyến đi qua đài thiên văn greenwich ở London, kinh độ có giá trị từ 0 đến 180° tính từ tuyến gốc về phía Đông và phía tây bán cầu, ở phía đông gọi là kinh độ đông ở phía tây bạn gọi là kinh độ Tây